Cơ hội cho ngành thủy sản Việt Nam với 2 thị trường tỷ đô

3 weeks ago harley 0

Ngành thủy sản Việt Nam ngày càng phát triển mang đến lợi ích kinh tế không nhỏ cho các hộ nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Trong đó, các thị trường lớn tiếp nhận thủy sản Việt Nam như CPTPP và EU đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Có khá nhiều quy định mới từ hai thị trường này yêu cầu lên chất lượng thủy sản Việt. Thực tế, theo các chuyên gia đánh giá cơ hội cho ngành thủy sản với 2 thị trường tỷ đô cũng đã bắt đầu.

Tình hình thủy sản Việt trên hai thị trường CPTPP và EU

Theo báo cáo năm 2018, sản lượng xuất khẩu thủy sản Việt Nam đến các nước CPTPP đã đạt giá trị khoảng 2,209 tỷ USD và chiếm tới 25,1% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Cụ thể, thị trường Nhật Bản có giá trị thủy sản đạt 1,378 tỷ USD, tại Úc đạt 197,038 triệu USD, tại Canada  đạt 239,789 triệu USD, tại Singapore đạt 113,15 triệu USD, tại Mexico đạt 115,488 triệu USD, tại Malaysia đạt 114,222 triệu USD,…

Thủy sản việt nam và cptpp

Đối với từng loại thủy sản, tôm là sản phẩm xuất khẩu có sản lượng và giá trị lớn nhất với 970,485 triệu USD, hải sản đạt 910,324 triệu USD, cá tra đạt 328,348 triệu USD và các loại thủy – hải sản khác,…

Tình hình xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU cũng rất khả quan khi đạt được đến 1,472 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu tôm vẫn đạt được giá trị lớn nhất tại EU với tổng 838,295 triệu USD, giá trị hải sản là 389,553 triệu USD và cá tra đạt 243,958 triệu USD.

Cơ hội cho ngành thủy sản với 2 thị trường tỷ đô

Từ những điều đã đạt được, có thể nhận thấy, thị trường các nước CPTPP và EU thực sự là thị trường tỷ đô của thủy sản Việt Nam. Không những nhiều quốc gia ưa chuộng thủy sản Việt mà các quy định, hiệp ước CPTPP và EVFTA cũng đã tác động không nhỏ lên chất lượng của thủy sản Việt, góp phần nâng cao sản lượng xuất khẩu chung của ngành thủy sản cả nước.

Thông báo mới nhất từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho biết, giá của các mặt hàng thủy sản Việt Nam trong thời gian tới có cơ hội giảm và cạnh tranh, có thể tiếp cận gần hơn với các thị trường khó tính nhờ thuế nhập khẩu của khối EU và các nước CPTPP giảm mạnh.

cơ hội cho thủy sản Việt Nam

Có thể thấy rõ hơn cụ thể như sau:

– Hơn 840 dòng thuế nhập khẩu thủy sản Việt được EU giảm về 0%.

– Canada quyết định xóa bỏ 100% dòng thuế nhập khẩu đối với thủy sản của Việt Nam.

– Nhật Bản xóa đến 91% thuế quan cho thủy sản Việt, đặc biệt là surimi, cá ngừ sọc dưa, cá ngừ vây vàng, …

– Australia giảm thuế về 0% cho tất cả các sản phẩm thủy sản từ Việt Nam.

Mặc dù ở một số nước sau khi hiệp ước có hiệu lực mới được tiến hành nhưng đây là tín hiệu đáng mừng cho ngành thủy sản Việt.

Không chỉ dừng lại ở việc giảm thuế suất, ngành thủy sản Việt có cơ hội phát triển lớn hơn nhờ tiếp cận được với các kỹ thuật nuôi trồng tiên tiến, máy móc hiện đại và các nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Các nước EU cùng CPTPP sẵn sàng chuyển giao công nghệ nuôi trồng, chế biến, bảo quản thủy sản với mức giá hợp lý và hỗ trợ người dân Việt Nam. Bên cạnh đó, rào cản về thủ tục hải quan cũng sẽ dần được phá bỏ để thuận lợi đưa thủy sản Việt Nam vào sâu thị trường nội địa của các nước.

Tiếp nhận lợi thế này, ý thức của người nuôi trồng thủy sản cũng tăng lên. Trong đó, đáng mừng nhất chính là áp dụng công nghệ 4.0 hay kỹ thuật chăm – nuôi mới sẽ được đưa vào thực tế, đảm bảo chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Trong quá trình đưa sản phẩm ra thị trường, nếu có bất kỳ khiếu nại nào thì thời gian xử lý cũng rút ngắn hơn, giảm bớt tổn thất cho người dân.

Đối với ngành thủy sản Việt Nam, cơ hội lần này là không thể bỏ qua bởi đây chính là thời điểm mang đến bước ngoặt lớn, làm thay đổi toàn bộ bộ mặt của ngành thủy – hải sản Việt.

Những thách thức cần vượt qua

Đi cùng với thuận lợi chính là thách thức, tuy nhiên, nếu có thể khắc phục được trong thời gian ngắn thì thủy sản Việt sẽ đứng vững trên hai thị trường tỷ đô EU và CPTPP. Đầu tiên là về vấn đề an toàn vệ sinh thủy hải thủy sản. Việt Nam cần phải chọn lọc và ghi rõ được xuất xứ sản phẩm, tránh các trình trạng thủy sản xuất đi không rõ nguồn gốc hoặc đánh bắt trái phép, vi phạm quy định quốc tế.

thách thức của thủy sản Việt

Thứ hai, vấn đề kiểm định chất lượng cần phải được làm gắt gao, đến nơi đến chốn và sát sao từ địa phương đến doanh nghiệp. Việc xây dựng các chương trình kỹ thuật, hướng dẫn nuôi trồng thủy sản sạch vô cùng cần thiết để tăng về cả sản lượng và chất lượng thủy sản nuôi trồng.

Việt Nam cam kết trong hiệp định rằng sẽ tuân thủ những việc quản lý cũng như khai thác thủy hải sản trên vùng biển nội địa và quốc tế, hơn nữa sẽ chú trọng các tiện pháp an toàn vệ sinh, bảo tồn nguồn lợi thủy sản,… Với những chính sách quan trọng, tin chắc trong tương lai ngành thủy sản Việt Nam sẽ phát triển hơn trên thị trường quốc tế.